Quyền và nghĩa vụ của người xin cấp chứng chỉ hành nghề
Ba quyền và sáu nghĩa vụ theo Điều 32 Nghị định 212/2026, trong đó có điều cấm cho người khác thuê, mượn chứng chỉ hành nghề.
Điều 32 Nghị định 212/2026 quy định quyền và nghĩa vụ của cá nhân đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề. Trong sáu nghĩa vụ có một điều cấm ngắn gọn nhưng đụng vào chuyện có thật ngoài công trường: không cho người khác thuê, mượn, sử dụng chứng chỉ hành nghề.
Quyền và nghĩa vụ chứng chỉ hành nghề: ba quyền được ghi nhận
Khoản 1 Điều 32 Nghị định 212/2026/NĐ-CP ghi nhận:
- Được yêu cầu cung cấp thông tin về việc cấp chứng chỉ hành nghề;
- Được hành nghề trên phạm vi cả nước theo nội dung ghi trên chứng chỉ;
- Khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm quy định pháp luật về cấp chứng chỉ hành nghề.
Quyền thứ hai đáng nhớ nhất và hay bị hiểu sai: chứng chỉ do Ủy ban nhân dân một tỉnh cấp vẫn có giá trị trên cả nước. Không cần xin thêm chứng chỉ ở tỉnh khác khi nhận việc ngoài địa bàn.
Quyền thứ nhất dùng được khi hồ sơ bị treo lâu không rõ lý do — đây là căn cứ để đề nghị cơ quan trả lời bằng văn bản. Xem bài bao lâu thì có chứng chỉ hành nghề.
Sáu nghĩa vụ
Khoản 2 liệt kê từ điểm a đến điểm e:
- Khai báo trung thực, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai, cung cấp thông tin khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
- Hành nghề đúng nội dung ghi trên chứng chỉ, tuân thủ pháp luật về xây dựng và pháp luật liên quan;
- Không cho người khác thuê, mượn, sử dụng chứng chỉ hành nghề;
- Không tẩy xóa, sửa chữa chứng chỉ;
- Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp;
- Xuất trình chứng chỉ và chấp hành thanh tra, kiểm tra khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Điều cấm cho thuê chứng chỉ và hệ quả thật
Điểm c là điều khoản đáng nói nhất. Việc cho mượn chứng chỉ để tổ chức khác đủ điều kiện dự thầu hoặc đủ nhân sự trên hồ sơ là chuyện tồn tại trong nghề, và nghị định cấm thẳng.
Hệ quả không dừng ở lời cấm. Khoản 2 Điều 29 quy định các trường hợp thu hồi chứng chỉ hành nghề, trong đó có hành vi cho thuê, cho mượn — chi tiết ở bài tám trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề.
Thêm một tầng nữa: từ khi có Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, thông tin chứng chỉ và tình trạng thu hồi đều được cập nhật lên hệ thống và tra cứu được. Người thuê chứng chỉ không còn dễ giấu như trước — xem bài tra cứu chứng chỉ hành nghề xây dựng.
“Hành nghề đúng nội dung ghi trên chứng chỉ”
Điểm b nghe hiển nhiên nhưng là nơi phát sinh tranh cãi nhiều nhất trong thực tế. Chứng chỉ ghi lĩnh vực, nội dung hành nghề và hạng, và phạm vi hoạt động tương ứng nằm ở Phụ lục II của nghị định.
Ký hồ sơ vượt quá phạm vi ghi trên chứng chỉ là vi phạm nghĩa vụ này, kể cả khi bạn thực sự đủ khả năng chuyên môn. Cách đọc phạm vi hoạt động ở bài phạm vi hoạt động chứng chỉ giám sát.
Khai báo trung thực: chế tài nằm ở chỗ khác
Điểm a buộc khai báo trung thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chế tài cụ thể nằm ở khoản 6 Điều 30: phát hiện giả mạo giấy tờ hoặc kê khai không trung thực ngay trong quá trình xem xét hồ sơ thì cơ quan dừng xử lý, và cá nhân chỉ được nộp lại sau 12 tháng.
Nghĩa là rủi ro không chỉ là bị từ chối lần này mà mất trọn một năm. Với người cần chứng chỉ để nhận việc, đó là cái giá lớn hơn nhiều so với lợi ích của việc khai vống thêm một công trình.
Câu hỏi thường gặp
Chứng chỉ do tỉnh cấp có dùng được ở tỉnh khác không?
Có. Điểm b khoản 1 Điều 32 ghi rõ được hành nghề trên phạm vi cả nước theo nội dung ghi trên chứng chỉ.
Cho công ty khác mượn chứng chỉ có sao không?
Vi phạm điểm c khoản 2 Điều 32, và thuộc trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề.
Hồ sơ bị treo lâu thì làm gì?
Dùng quyền yêu cầu cung cấp thông tin về việc cấp chứng chỉ tại điểm a khoản 1 Điều 32.
Ký hồ sơ ngoài phạm vi ghi trên chứng chỉ có được không?
Không. Nghĩa vụ hành nghề đúng nội dung ghi trên chứng chỉ nằm ở điểm b khoản 2.
Kê khai thêm công trình chưa từng làm thì sao?
Bị dừng xem xét hồ sơ và phải chờ 12 tháng mới được nộp lại.
Chứng chỉ bị rách, viết thêm vào có sao không?
Vi phạm điểm d khoản 2 về không tẩy xóa, sửa chữa chứng chỉ. Trường hợp hư hỏng thì làm thủ tục cấp lại.
Quy định trích từ bản đăng Công báo của Nghị định 212/2026/NĐ-CP, Điều 32.
Căn cứ pháp lý
Nội dung bài viết dựa trên các văn bản dưới đây. Bấm vào từng văn bản để xem tóm tắt, tình trạng hiệu lực và tải bản gốc.
-
NĐ 212/2026/NĐ-CP • Còn hiệu lựcĐiều kiện năng lực hoạt động xây dựng; Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng
Khi có khác biệt giữa nội dung bài viết và văn bản gốc, văn bản gốc là căn cứ duy nhất. Hãy kiểm tra lại hiệu lực trước khi sử dụng để chuẩn bị hồ sơ.
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế văn bản gốc và không phải ý kiến tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể. Xem chi tiết.