Cập nhật 18/09/2026 · Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch đô thị và nông thôn
TIN NÓNG

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư: thủ tục đã bãi bỏ, luật vẫn yêu cầu

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư: ảnh bìa về việc bãi bỏ thủ tục cấp chứng chỉ từ 01/7/2026
Thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc bị bãi bỏ từ 01/7/2026, yêu cầu của Luật Kiến trúc thì vẫn còn.

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư đang ở một tình trạng khác hẳn chứng chỉ hành nghề xây dựng, và cũng khó hơn: từ 01/7/2026, toàn bộ thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn và chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc đã bị bãi bỏ, trong khi Luật Kiến trúc 2019 vẫn buộc ba chức danh phải có chứng chỉ đó. Bài này trích cả hai văn bản, nói rõ hệ quả kiểm chứng được, và chỉ ra con đường mà khoản 2 Điều 21 Luật Kiến trúc vẫn để mở cho người chưa có chứng chỉ.

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư: thủ tục đã bị bãi bỏ từ 01/7/2026

Quyết định 975/QĐ-BXD ngày 22/6/2026, có hiệu lực 01/7/2026, công bố danh mục thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn, kiến trúc. Sáu thủ tục bị bãi bỏ, và tất cả đều thuộc lĩnh vực kiến trúc:

Mã thủ tục Tên thủ tục Cấp thực hiện
1.008891 Cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc cấp tỉnh
1.008990 Cấp lại chứng chỉ bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp cấp tỉnh
1.008989 Cấp lại chứng chỉ do mất, hư hỏng hoặc thay đổi thông tin cá nhân cấp tỉnh
1.008991 Gia hạn chứng chỉ hành nghề kiến trúc cấp tỉnh
1.008993 Chuyển đổi chứng chỉ của người nước ngoài ở Việt Nam cấp tỉnh
1.008881 Công nhận tổ chức đủ điều kiện thực hiện sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc Bộ Xây dựng

Danh mục này bao trọn vòng đời của tấm chứng chỉ: từ khâu công nhận đơn vị được tổ chức sát hạch, tới cấp mới, cấp lại, gia hạn, chuyển đổi. Không thủ tục nào trong nhóm được giữ lại. Căn cứ bãi bỏ là Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh.

Nhưng Luật Kiến trúc vẫn buộc ba chức danh phải có chứng chỉ

Đây là điểm mà người hành nghề cần đọc kỹ. Khoản 1 Điều 21 Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14, nguyên văn:

Cá nhân đảm nhận chức danh chủ trì thiết kế kiến trúc, cá nhân chịu trách nhiệm chuyên môn về kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc, kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân phải có chứng chỉ hành nghề kiến trúc, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này.

Ba chức danh, và Điều 31 là ngoại lệ dành cho người nước ngoài hành nghề tại Việt Nam.

Đặt cạnh Quyết định 975 thì thành ra: yêu cầu luật định vẫn còn, còn thủ tục hành chính để đáp ứng yêu cầu đó thì không còn. Hệ quả thực tế kiểm chứng được là người chưa có chứng chỉ hành nghề kiến trúc hiện không có cách nộp hồ sơ để xin, vì thủ tục đã bị bãi bỏ ở cả cấp tỉnh lẫn cấp trung ương.

Còn việc hiểu quan hệ giữa hai văn bản này thế nào cho đúng, đây là điểm cần cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, không phải chỗ để suy diễn. Nếu bạn đang giữ hoặc cần chức danh chủ trì thiết kế kiến trúc, hãy hỏi cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bằng văn bản và giữ lại câu trả lời.

Con đường khoản 2 Điều 21 vẫn để mở

Ngay dưới khoản buộc phải có chứng chỉ là một khoản ít được nhắc, và nó là phần dùng được ngay:

Cá nhân không có chứng chỉ hành nghề kiến trúc được tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân.

Nghĩa là làm việc trong tổ chức hành nghề kiến trúc, hoặc hợp tác với một kiến trúc sư đã có chứng chỉ hành nghề với tư cách cá nhân, thì không cần chứng chỉ. Ranh giới nằm ở chức danh: tham gia thực hiện thì không cần, còn chủ trì thiết kế kiến trúc hoặc chịu trách nhiệm chuyên môn về kiến trúc của tổ chức thì cần.

Kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân, theo Điều 25, là người có chứng chỉ hành nghề kiến trúc, không thuộc tổ chức hành nghề kiến trúc, nhân danh cá nhân mình thực hiện dịch vụ kiến trúc. Không có chứng chỉ thì không thuộc diện này.

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc đã cấp thì sao

Quyết định 975/QĐ-BXD không đề cập giá trị của những chứng chỉ đã được cấp trước đó. Văn bản chỉ bãi bỏ thủ tục hành chính, không nói gì về hiệu lực của chứng chỉ đang lưu hành. Chúng tôi không suy đoán về điểm này.

Điều cần lưu ý là chứng chỉ hành nghề kiến trúc có thời hạn, và trước đây khi hết thời hạn thì làm thủ tục gia hạn theo khoản 2 Điều 28 Luật Kiến trúc — với ba điều kiện: chứng chỉ hết thời hạn sử dụng, bảo đảm phát triển nghề nghiệp liên tục, và không vi phạm Quy tắc ứng xử nghề nghiệp. Thủ tục gia hạn ấy đã bị bãi bỏ (mã 1.008991). Vậy nên với người có chứng chỉ sắp hết hạn, câu hỏi cần gửi cơ quan quản lý là cụ thể: khi chứng chỉ hết thời hạn mà không còn thủ tục gia hạn thì xử lý thế nào.

Điều kiện cấp chứng chỉ trước đây gồm những gì

Để đối chiếu, đây là ba điều kiện tại khoản 1 Điều 28 Luật Kiến trúc:

  • Có trình độ từ đại học trở lên về lĩnh vực kiến trúc;
  • Có kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc tối thiểu 03 năm tại tổ chức hành nghề kiến trúc, hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân;
  • Đạt yêu cầu sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc.

Hai trường hợp được miễn: người có từ 10 năm liên tục trở lên trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về kiến trúc, đào tạo trình độ đại học trở lên về kiến trúc, hoặc hành nghề kiến trúc thì được miễn điều kiện sát hạch; người đạt giải thưởng kiến trúc quốc gia hoặc giải thưởng quốc tế về kiến trúc thì được miễn điều kiện 03 năm kinh nghiệm.

Lưu ý về hạng: Luật Kiến trúc không phân hạng chứng chỉ hành nghề kiến trúc thành hạng I, II, III. Việc phân ba hạng là của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng — xem bài hạng chứng chỉ hành nghề xây dựng. Vì vậy các cụm như “chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư hạng 1” hay “hạng 2” là cách gọi mượn từ bên xây dựng, không có trong Luật Kiến trúc.

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư và chứng chỉ hành nghề xây dựng là hai chế định khác nhau

Đây là chỗ hay bị gộp làm một. Khoản 4 Điều 88 Luật Xây dựng 2025 tách hẳn: “Tổ chức, cá nhân hành nghề kiến trúc thực hiện theo quy định của pháp luật về kiến trúc.”

Nghị định 212/2026/NĐ-CP nhắc lại điều đó ngay trong danh mục lĩnh vực cấp chứng chỉ. Điểm c khoản 1 Điều 28 xếp thiết kế kiến trúc công trình vào lĩnh vực thiết kế xây dựng, nhưng kèm ghi chú trong ngoặc: “thực hiện theo quy định của pháp luật về kiến trúc”.

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng
Luật gốc Luật Kiến trúc 40/2019/QH14 Luật Xây dựng 135/2025/QH15
Phân hạng không phân hạng hạng I, II, III
Thủ tục cấp đã bãi bỏ từ 01/7/2026 còn, xét hồ sơ, không còn sát hạch
Cơ quan cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh UBND cấp tỉnh

Nói cách khác: có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng không thay thế được chứng chỉ hành nghề kiến trúc cho phần thiết kế kiến trúc công trình, vì chính Nghị định 212 dẫn phần việc đó về pháp luật kiến trúc. Điều kiện cấp chứng chỉ thiết kế xây dựng ở bài điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng.

Cẩn thận với dịch vụ nhận làm chứng chỉ hành nghề kiến trúc

Khi một thủ tục bị bãi bỏ mà nhu cầu vẫn còn, đó là lúc dễ xuất hiện lời hứa không thực hiện được. Hai dấu hiệu cần dừng lại:

  • Ai nhận “làm nhanh” chứng chỉ hành nghề kiến trúc sau 01/7/2026 — không có thủ tục nào để nộp hồ sơ, nên không có đường hợp pháp nào để làm nhanh;
  • Ai nhận “đăng ký sát hạch” kiến trúc — cả thủ tục công nhận tổ chức đủ điều kiện sát hạch cũng đã bị bãi bỏ (mã 1.008881).

Nếu cần hành nghề ngay, đường đi hợp pháp là khoản 2 Điều 21: tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong một tổ chức hành nghề kiến trúc, hoặc hợp tác với kiến trúc sư đã có chứng chỉ hành nghề với tư cách cá nhân.

Câu hỏi thường gặp

Còn xin được chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư không?
Không còn thủ tục hành chính để làm việc đó. Năm thủ tục ở cấp tỉnh và một thủ tục ở Bộ Xây dựng đều bị bãi bỏ từ 01/7/2026 theo Quyết định 975/QĐ-BXD.

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc đã cấp có còn giá trị không?
Quyết định 975/QĐ-BXD không đề cập vấn đề này, chỉ bãi bỏ thủ tục hành chính. Cần hỏi cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh để được xác nhận.

Không có chứng chỉ thì làm được những việc gì?
Theo khoản 2 Điều 21 Luật Kiến trúc, được tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc, hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân. Không được đảm nhận chức danh chủ trì thiết kế kiến trúc hay chịu trách nhiệm chuyên môn về kiến trúc của tổ chức.

Chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư có hạng 1, hạng 2, hạng 3 không?
Không. Luật Kiến trúc không phân hạng. Ba hạng I, II, III là của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng.

Có chứng chỉ thiết kế xây dựng thì chủ trì thiết kế kiến trúc được không?
Nghị định 212/2026 xếp thiết kế kiến trúc công trình vào lĩnh vực thiết kế xây dựng nhưng ghi rõ phần việc này thực hiện theo pháp luật về kiến trúc. Đây là điểm nên hỏi cơ quan quản lý cho trường hợp cụ thể của bạn.

Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng có bị bãi bỏ theo không?
Không. Đó là chế định riêng theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026, vẫn còn và vẫn được cấp.

Đối chiếu ở đâu

Toàn văn Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 đăng tại Công báo Chính phủ, Công báo số 559 + 560 ngày 17/7/2019; các khoản trích trong bài là Điều 21, Điều 25 và Điều 28. Danh mục thủ tục bị bãi bỏ nằm ở Phần I Quyết định 975/QĐ-BXD. Đây là thay đổi lớn với người hành nghề kiến trúc, nên hãy đối chiếu bản gốc và xác nhận với cơ quan quản lý trước khi quyết định. Xem thêm bảng tra văn bản xây dựng còn hiệu lực.

Căn cứ pháp lý

Nội dung bài viết dựa trên các văn bản dưới đây. Bấm vào từng văn bản để xem tóm tắt, tình trạng hiệu lực và tải bản gốc.

  1. NQ 66.18/2026/NQ-CP • Còn hiệu lực
    Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP: cắt giảm thủ tục, hồ sơ đã nộp xử lý thế nào
  2. Luật 40/2019/QH14 • Còn hiệu lực
    Luật Kiến trúc 2019
  3. NĐ 212/2026/NĐ-CP • Còn hiệu lực
    Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng; Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng
  4. Luật 135/2025/QH15 • Còn hiệu lực
    Luật Xây dựng 2025

Khi có khác biệt giữa nội dung bài viết và văn bản gốc, văn bản gốc là căn cứ duy nhất. Hãy kiểm tra lại hiệu lực trước khi sử dụng để chuẩn bị hồ sơ.

Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế văn bản gốc và không phải ý kiến tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể. Xem chi tiết.

Bài liên quan

An toàn trong thi công xây dựng: 5 người có quyền dừng việc An toàn trong thi công xây dựng: 5 người có quyền dừng việc

Quy định về an toàn trong thi công xây dựng tại Nghị định 207/2026 có một điểm ít ai để ý: năm chủ thể…

An toàn lao động trên công trường: 6 quy định và quyền từ chối việc An toàn lao động trên công trường: 6 quy định và quyền từ chối việc

Quy định về an toàn lao động trên công trường thường được đọc như một danh sách nghĩa vụ của người lao động. Nhưng…

Có chứng chỉ hành nghề an toàn lao động không: 4 lĩnh vực không gồm an toàn Có chứng chỉ hành nghề an toàn lao động không: 4 lĩnh vực không gồm an toàn

Rất nhiều người tìm chứng chỉ hành nghề an toàn lao động để làm hồ sơ nhà thầu, rồi không hiểu vì sao Sở…

0901 161 998 Tư vấn qua Zalo